CHUC MUNG NGAY 20-11

Liên kết Website

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 22


Hôm nayHôm nay : 98

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 24005

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1320660

ĐƠN VỊ THIẾT KẾ

Gian nan con đường học chữ của học sinh dân tộc

Thứ tư - 21/08/2013 16:32
Gian nan con đường học chữ của học sinh dân tộc

Gian nan con đường học chữ của học sinh dân tộc

Cua ngoặt, dốc cao, quanh co, sương mù, khói núi chập chờn - đó là nhận xét tổng quát về con đường liên thôn từ trung tâm xã Hương Vĩnh vào Bản Giàng 2. Đây là con đường liên thôn dài nhất, hiểm trở và mới thông xe nhất của huyện Hương Khê và tỉnh Hà Tĩnh. Đã gần 9 giờ sáng mà khói núi và sương mù vẫn bao phủ con đường dốc quang co, thoang thoảng mùi nhựa đường trộn lẫn với hương của hoa rừng- xe mới, tài xế từng trải mà hơn tiếng mới bò hết đoạn đường dài chưa đầy 15 cây số lên bản.
Cua ngoặt, dốc cao, quanh co, sương mù, khói núi chập chờn - đó là nhận xét tổng quát về con đường liên thôn từ trung tâm xã Hương Vĩnh vào Bản Giàng 2. Đây là con đường liên thôn dài nhất, hiểm trở và mới thông xe nhất của huyện Hương Khê và tỉnh Hà Tĩnh. Đã gần 9 giờ sáng mà khói núi và sương mù vẫn bao phủ con đường dốc quang co, thoang thoảng mùi nhựa đường trộn lẫn với hương của hoa rừng- xe mới, tài xế từng trải mà hơn tiếng mới bò hết đoạn đường dài chưa đầy 15 cây số lên bản.
 
Bản Giàng 2 hôm nay, người xưa thường gọi là “Bản Mèo Thây”, một quần cư của người dân tộc Lào- Việt sinh sống trên biên giới Việt- Lào. Thủ tục vừa xong, đỡ sào chắn cho xe qua đồng chí phụ trách cổng gác của đồn Biên phòng với nụ cười tươi trẻ còn nói theo: “Chắc cán bộ xã và các thầy vào thăm bản và tặng quà cho bà con dân tộc Lào nhân kỉ niệm 50 năm tình hữu nghị Việt - Lào”.
 

Đi qua trạm gác của Đồn Biên phòng Bản Giàng (đồn 575 cũ- thuộc Bộ chỉ huy Biên phòng Hà Tĩnh), nằm ngay trên đường lên biên giới Việt- Lào, cách cột mốc chừng dăm bảy cây số, lờ mờ trong khói núi hiện lên 9 nóc nhà- Bản Giàng 2 Hương Vĩnh. Với 39 nhân khẩu, 11 hộ sinh sống trong 9 nóc nhà nằm giữa núi rừng của đại ngàn Trường Sơn. Do theo thị tộc mẫu hệ nên có gia đình tuy đã tách hộ nhưng vẫn sống chung, ở nhà bố mẹ vợ. Cuộc sống ở đây chủ yếu dựa vào rừng. Không ruộng, không hoa màu vườn cây ăn trái, thu nhập nhờ vào kết quả săn bắt, hái lượm, khai thác sản vật, tài nguyên rừng; đời  sống kinh tế thật bấp bênh. Con đường nhựa từ trung tâm xã lên bản mới có hơn năm nay. Trước đây, từ Giàng muốn xuôi về xã phải đi vòng qua Lâm trường Chúc A (xã Hương Lâm), xuôi về xã Hương Xuân mới quay về xã, ngót ngét 30 cây số. Nằm giữa rừng xanh, đường xá xa xôi cách trở, điều kiện kinh tế và trình độ dân trí thấp là khó khăn lớn nhất trong việc học chữ của con em dân tộc nơi đây.
 
Trong những năm cuối của thế kỉ 20 việc học tiếng Việt, học văn hóa tại đây là kết quả của sự phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng và ngành Giáo dục. Những thầy giáo quân hàm xanh như thầy Tịnh (Trung tá Dương Thanh Tịnh hiện là trạm trưởng trạm biên phòng tại bản dân tộc Chứt, Rào Tre xã Hương Liên- thuộc đồn Biên phòng Bản Giàng) đã cùng ăn, cùng ở và cùng đem con chữ đến với con em đồng bào. Cái ngày, lớp học mà không có lớp; buổi học mà không có buổi; tiết học mà không có tên môn học; đồ dùng dạy học không có địa chỉ nhà sản xuất, xuất bản. Lớp học, nay giữa sàn nhà này mai lại góc sàn nhà khác; buổi học bắt đầu khi người học có nhà, khi thầy giáo tranh thủ được thời gian không kể đó là sáng, trưa hay chiều, tối; tiết học tổng hợp các môn, các đối tượng; đồ dùng dạy học chỉ là vật dụng, vật thật và liên hệ thực tế từ sự gần gũi và sáng tạo của thầy giáo quân phục xanh. Xa hơn về trước đó, những người đã hy sinh tuổi thanh xuân và sức lực của mình như thầy Hỷ (nay nghỉ hưu tại Hương Xuân), thầy Hiến (đã mất)… là những người khai sáng và đưa tiếng nói, con chữ Việt đến với đồng bào dân tộc Lào tại bản Mèo Thây. Năm học 2012-2013 Bản Giàng 2 có 4 cháu đang học tại 3 trường tiểu học; trong đó có 2 em đang học năm thứ hai lớp 1 tại trường nhà Hương Vĩnh, do điều kiện kinh tế, đường xá xa cách… nên mấy lâu không đến trường học tập.
 
Đoàn công tác vào bản lần này đông hơn những lần trước, với đủ thành phần từ BGH trường tiểu học, công an, chuyên trách văn hóa xã và phòng GD&ĐT. Được xã thông báo trước, bà Hồ Thị Hồng (trưởng bản) đã “giữ chân” các phụ huynh, học sinh để có đủ thành phần như mong đợi. Vượt qua những bớ ngỡ ban đầu sau khi giới thiệu, làm quen, phát quà không khí buổi gặp trở nên gần gũi, đầm ấm, dần xua bớt cái giá lạnh đầu đông từ đại ngàn Trường Sơn len lỏi vào các khe ván nhà sàn. “Hắn không chịu đi học vì nhớ mẹ, nhớ chị em, nhớ bản làng và nhớ rừng; đợt trước ở nhờ nhà ông bảo vệ, ông ấy tốt lắm, chăm lo chu đáo nhưng nhà không có trẻ con chơi, không ai tắm gặt cho, mình ra lần mô nó cũng khóc, nó đòi về, thương nó quá mình đưa về thôi; về nhà hắn thích đi theo vào rừng hái rau quả, bẫy chim, bẫy chuột rừng; mùa này chim rừng hiếm nhưng chuột rừng béo lắm”- bà Hồ Thị Hà mẹ của học sinh Hồ Thị Hoài Linh miệng nói, tay áo gặt dòng nước mắt. “Ngoài việc mấy đứa nhỏ nhớ nhà, nhớ bản muốn về, không ai chăm sóc, bọn hắn cũng không có đủ tiền để cho con đi học mô. Mỗi tháng hết 8-9 trăm ngàn chưa kể tiền xe ôm mỗi lần ra thăm con là đi tong 2 trăm ngàn, bà con dân tộc mình làm chi có tiền rứa”- bà Hồng trưởng bản nói thế.
 

 
 
Các phương án được bàn bạc, nhà trường hứa sẽ cung cấp đầy đủ sách, vở đồ dùng học tập cho các cháu; Bác Công an xã- tướng mạo nghiêm nghị nhưng rất hài hước, hứa sẽ mượn nhà gần trường, có trẻ con cùng lứa cho cháu ở; Chị phụ trách Văn hóa xã- thật xinh, còn rất trẻ như chị gái của các em hứa sẽ thường xuyên đến chơi với các cháu; Bà Trưởng bản hứa sáng mai sẽ thúc dục phụ huynh đưa các cháu về làng mượn nhà thu xếp cho các cháu ăn, ở và đi học; Phòng GD sẽ tham mưu hỗ trợ kinh phí cho các cháu học tập. Nếu gia đình liên hệ được nơi ăn chốn và học tập tại trường khác thì nhà trường sẽ lo đầy đủ hồ sơ và vẫn cung cấp đủ sách, vở, tài liệu, đồ dùng học tập như học tại trường nhà cho các cháu. Nhưng, đã hơn tuần trôi qua … “vẫn chưa thấy cháu nào ra học cả anh ạ”.
 
Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Hương Khê, trường học duy nhất dành cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số và con em tại các vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn của huyện Hương Khê (nay cả tỉnh Hà Tĩnh). Việc mở thêm các lớp tiểu học tại trường Dân tộc Nội trú trước đây là sự linh hoạt ngoài qui chế trường nội trú nhưng đã góp phần vô cùng to lớn trong cho việc xóa mù, nâng cao dân trí cho các thế hệ học trò và phụ huynh các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện. Với chính sách ưu việt của Đảng và Nhà nước ta, các em được ăn, ở và học tập trong một môi trường đúng nghĩa sạch- đẹp- an toàn và hiện đại. Ngoài ra, những tháng nghỉ hè ở nhà, trường cũng thanh toán tiền sinh hoạt phí và gửi tại bộ đội phòng để các chú giữ, chi theo đợt cho các cháu. (nếu đưa 1 lần cho các em hoặc cha mẹ thì sẽ bị chi tiêu hết ngay). Các em nhận được sự dạy dỗ nhiệt tình, chăm sóc chu đáo của tập thể giáo viên và nhân viên nhà trường. Từ ngôi trường này có trên 15 em học sinh dân tộc thiếu số đã vào các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị và đang theo học tại các trường ĐH, CĐ, TCCN (có 2 em hiện thuộc Bộ chỉ huy Biên Phòng Hà Tĩnh); em Hồ Thị Loan, đứa con sinh ra giữa đại ngàn Trường Sơn, đi ra từ một trong chín nóc nhà giữa mờ sương của bản Mèo Thây nay là giáo viên của trường mẫu giáo xã nhà (chồng người kinh là Bộ đội Biên phòng)…
 
Không còn cảnh mỗi tháng hai lượt trường Phổ thông Dân tộc Nội trú thuê xe đưa các cháu về bản nghỉ cuối tuần và đón các cháu trở lại trường chuẩn bị cho những bài học mới. Bắt đầu, gian nan con đường học chữ của con em các dân tộc thiểu số.
 
Thực hiện qui chế của Bộ GD&ĐT, mấy năm nay trường phổ thông DTNT không tuyển sinh học sinh tiểu học (chỉ còn lớp 5 do tuyển sinh khi vào lớp 1). Không những học sinh con em dân tộc Lào tại bản Giàng 2 mà con em dân tộc Chứt tại bản Rào Tre và các dân tộc khác cũng thế. Với bản Rào Tre (Hương Liên), con đường bê tông- nhựa non 3km từ bản sang trường tiểu học Hương Liên hôm nay nó “gập ghềnh, xa xôi, trắc trở” hơn con đường trên 30km từ bản Rào Tre ra trường DT Nội trú của các anh chị trước đây biết bao nhiêu. “Thời xưa, anh chị có xe đưa đón tận nơi, ăn uống có người nấu, chăn màn quần áo cũng được cho, nghỉ hè vẫn có sinh hoạt phí, không đội mưa, rẽ gió đi học như bây giờ. Buổi nay, chỉ hơn 2 cây số mà ngày mưa không chịu đến trường, ngày nắng lêu têu dọc đường, đến muộn”. Trường tiểu học Hương Liên hiện có 16 cháu dân tộc Chứt theo học tại các lớp 1,2,3,4. “Sáng nào cũng rứa, cứ sắp vào học là hiệu trưởng, hoặc phó hiệu trưởng điện sang tổ công tác biên phòng tại bản Rào Tre, nhờ bộ đội đến các nhà xem có cháu nào chưa đi học, tổng phụ trách đội phóng xe ra đường đến cầu tràn Rào Say xem có cháu nào còn nhởn nhơ dọc đường để đưa về lớp. Sách, vở, bút viết… hôm nay có mai lại không, các cháu lại có tính nghiền nhai sách vở”- thầy Hiệu trưởng nói thế. Nhà trường đã cử giáo viên có kinh nghiệm, nhiệt tình để dạy và kèm cặp, nhưng các em vẫn duy trì đặc điểm “học xong- quên ngay”. “Người dân tộc Chứt ở đây nó thế, tối ngủ rất khuya, mà sáng dậy rất muộn, các cháu cũng rứa, đến giờ học rồi mà vẫn không chịu dậy, sáng nào cũng phải đi gọi từng nhà, đưa cơm gói cho nó ăn đi học. Trời mưa, nó nói không có ni long để đi học, bộ đội mua cho, hết mưa nó vứt luôn lần sau lại không có- thật khổ với các cháu. Đi học thì nó không muốn đi, nó nói không có tiền như các anh chị khi học nội trú không muốn đi học; nó nói ốm nên mình không đi học được, nhưng luôn chực trốn các chú biên phòng để đi theo người lớn vào rừng kiếm rau, kiếm củi”- Trung tá Tịnh trao đổi.
 
Hương Khê hiện có 83 học sinh con em các dân tộc Chứt, Lào, Thái, Tày, Nùng, Mường, Khơ Me… đang học tại các trường tiểu học, nhưng với điều kiện kinh tế, trình độ dân trí, địa hình cách trở như bản Rào Tre (Hương Liên) và đặc biệt như Bản Giàng 2 (Hương Vĩnh) việc để các em tiếp tục học tập được một cách bình thường thật sự có nhiều khó khăn, trăn trở.
Công lao bao lần vất vả vượt đường rừng quanh co, hiểm trở lên bản nay đã có kết quả. Tin mừng, các em học sinh dân tộc Lào thuộc Bản Giàng 2 dựa vào người quen trong quan hệ nghề rừng với bố đã có được chỗ để ăn, ở và chịu ra học chữ tại trường TH Chúc A và trường TH Hương Xuân. Mong rằng sự nỗ lực từ bản thân các cháu, từ gia đình, nhà trường và cộng đồng các em sẽ vượt qua được nỗi nhớ nhà, nhớ bản, nhớ rừng mà ở lại để tiếp tục duy trì việc học tập.
 
Mùa đông đang đi đến cuối chặng đường, ánh nắng mùa xuân dần dần hé lộ trên những cánh rừng mờ sương. Cái nắng ấp áp đang về nơi đại ngàn khói núi, chim rừng thi nhau ca hát, hoa rừng đua nhau khoe sắc, hương thơm nồng nàn sẽ tràn ngập đại ngàn rừng Trường Sơn. Con đường về bản, con đường đến trường, con đường học cái chữ của các cháu sẽ bớt mây mù, khói núi. Hương thơm, trái ngọt tràn đầy sẽ đền đáp tháng ngày gian nan vất vả con đường học chữ của các cháu, công lao sinh thành, nuôi nấng, chăm sóc của gia đình và nhiệt tình dạy giỗ quí thầy cô giáo hôm nay.
                                               
                                                                                                                                                                Tháng 12 năm 2012
                                                                                                                           Lê Hữu Tân - Phòng GD&ĐT Hương Khê
          ĐT: 0982 487 016 - 0919 777 127; Email: letan.hk@gmail.com

Tác giả bài viết: Lê Hữu Tân

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Trần Đình Anh - 25/11/2013 07:07
Theo các chuyên gia nghiên cưu dân tộc học thì Họ là dân tôc Coong chứ không phải dân tôc lào. Ngày xưa huyên Hương Khê tính nhập bản rào Tre(xã ZHuwowng Liên và Bản Giàng làm một , làm nha cho họ tuy nhiên họ không chiu) Hai bản này thuộc 2 dân tộc khác nhau. Bản Rào Tre là dân tộc Chứt(họ có mỗi liên hệ với người Chút ở Quảng Bình. Riêng Người Coong lại có mỗi liên hẹ với người Lào(họ lấy vợ người Lào. Tuy Nhiên nếu tác giả cho rằng học là người Là là sai lầm. Ngày xưa cư dân xã Hương Vĩnh gọi họ là dân tộc Mã Liềng. Còn Tên Mèo Thây là tên của trưởng bản ngày trước.Nhưng năm 60, 70 người dân tộc Mã Liềng đã có tham gia các hoạt động với cộng đồng người Viêt xã Vĩnh. Họ cũng tham gia gửi tiền tiết kiện nữa đó.Ngày xưa đã có lớp học cho con em bản , Nhiều người đã học hết tiểu học và biết chữ.

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn