CHUC MUNG NGAY 20-11

Liên kết Website

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 39


Hôm nayHôm nay : 561

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 19852

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1278502

ĐƠN VỊ THIẾT KẾ

Một vài chia sẻ sau một học kỳ thông tư 30 đi vào thực hiện

Thứ ba - 27/01/2015 11:12
Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 15/10/2014; một chặng đường thật ngắn để một vấn đề mới đi vào cuộc sống và đặc biệt là sự thay đổi tiềm thức đã ăn khá sâu vào xã hội, người thực hiện nó - quý thầy cô giáo và các nhà quản lý các trường tiểu học. Nhưng con sóng của dư luận, của các thầy cô giáo trong những ngày đầu tháng 10,11/2014 về Thông tư 30 đã dần dần dịu êm.
Thông tư 30 để đánh giá học sinh tiểu học, trong đó nêu rõ đánh giá học sinh tiểu học bao gồm: nội dung và cách thức đánh giá, sử dụng kết quả đánh giá; để thực hiện được nội dung, cách thức và sử dụng kết quả của việc đánh giá thì trước hết mỗi CBQL,GV phải hiểu về nó, hiểu về một sự thay đổi, một yêu cầu chuyển biến về nhận thức và trước khi tổ chức thực hiện với thời gian rất ngắn các trường đã triển khai nhiều hình thức để đưa Thông tư 30 vào thực hiện, Công tác tổ chức học tập, nghiên cứu tại các tổ khối, trường đưa ra các tình huống, nêu lên thắc mắc để cùng giải đáp; thực hiện trên các diễn đàn từ họp phụ huynh đến các cuộc họp, hội nghị của các tổ chức cấp xã đều được nhà trường lồng ghép chia sẻ về nội dung đánh giá học sinh tiểu học theo quy định mới của Thông tư 30.      
Thông tư với nhiều thay đổi, nhưng thay đổi gây dư luận trái chiều nhất với học sinh, phụ huynh, cộng đồng là thay đổi không còn dùng điểm số trong các lần kiểm tra thường xuyên, giảm điểm số trong đánh giá định kì; đối với giáo viên là việc đánh giá thường xuyên bằng nhận xét. Tuy nhiên, sau 3 tháng thì vấn đề đang được thấm nhuần, chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và đưa vào thực hiện; đánh giá và thay đổi đánh giá chỉ vì mục tiêu tiến bộ của học sinh vì sự phát triển toàn diện của các em- thế hệ tương lai của đất nước. Muốn đạt mục tiêu đó thì cần có sự thay đổi và đây là một trong những nội dung thể hiện “Đổi mới căn bản, toàn diện…” mà NQ 29-NQ/TW đã đưa ra.
Công tác đánh giá thường xuyên đã có chuyển biến khá tốt; đã thay đổi và giảm việc phàn nàn về nhận xét đánh giá học sinh. Vốn trước khi thực hiện Thông tư 30 thì việc nhận xét, đánh giá thường xuyên vẫn hàng ngày được thực hiện nhưng lời nhận xét đi kèm điểm số.
Tuy đã có rất nhiều ưu điểm và đạt được kết quả bước đầu khá tốt, nhưng cũng đút rút đôi điều về thực hiện Thông tư 30 trong thời gian qua.
Một số điểm đạt chưa trong thời gian qua về thực hiện Thông tư 30 là:
-         Công tác tuyên truyền trong các cấp và đến tận phụ huynh để hiểu được
rõ mục tiêu điểm nổi bật của Thông tư 30 vẫn còn cần thời gian và vào cuộc hơn nữa của ngành GD, các phương tiện truyền thông khác, cần hơn trên các diễn đàn của chính quyền và cộng đồng.
-         Một số CBQL, GV vẫn còn chịu áp lực của việc chấm điểm, khen thưởng
theo kiểu cũ, cho rằng có điểm mới động viên được học sinh, có điểm thì cha mẹ mới biết được lực học của con mình; chưa hiểu rõ mục đích, nội dung và kĩ thuật đánh giá. Đặc biệt một số trong quá trình đánh giá thể hiện chưa nắm chắc và bám các nguyên tắc để đánh giá.
-         Có n hiều khó khăn trong việc đánh giá thường xuyên, đặc biệt là nhận
xét học sinh trên lớp và ghi chép trong vở, bài kiểm tra, Sổ theo dõi chất lượng học sinh, cho đó là việc làm khó, mất thời gian…
          Trao đổi một vài điều để trong thời gian gần nhất việc đưa Thông tư 30 vào đánh giá sát với mục đích, yêu cầu của nó và gần thực tế học sinh hơn.
Căn cứ vào đặc điểm và mục tiêu của bài học, của mỗi hoạt động mà học sinh phải thực hiện trong bài học để giáo viên có được nhận xét đúng, chính xác về sự tiến bộ trong kết quả học tập theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học và hoạt động giáo dục; sự hình thành và phát triển một số năng lực; sự hình thành và phát triển một số phẩm chất của mỗi học sinh. Muốn điều này giáo viên cần chú ý đến yêu cầu quan trọng nhất đó là: “Quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra quá trình và từng kết quả thực hiện nhiệm vụ của học sinh, nhóm học sinh theo tiến trình dạy học” có quan sát giáo viên mới phát hiện được học sinh có hoàn thành nhiệm vụ, có nắm được kiến thức, kĩ năng của từng đơn vị kiến thức; có quan sát kĩ thì mới nhận biết được các nhóm đối tượng hoàn thành nhiệm vụ và giúp đỡ các cá nhân đạt mục tiêu của cá nhân- nhóm; quan sát kĩ mới biết mức độ thành thạo (kĩ năng) và mức độ hiểu biết và năng lực vận dụng kiến thức, mức độ thành thạo các thao tác, kĩ năng cần thiết, phù hợp với yêu cầu của bài học của mỗi em và của nhóm cũng như hợp tác nhóm trong hoạt động mà giáo viên yêu cầu học sinh, mục tiêu bài học các em đưa ra (VNEN).
Nắm nguyên tắc của Thông tư là vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh phát huy tất cả khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan. Vì sự tiến bộ của trẻ là phát hiện kịp thời điểm học sinh chưa hoàn thành, đang lúng túng để giúp đỡ, tư vấn đúng lúc hoặc nhờ học sinh khác trợ giúp để hoàn thành ngay từng đơn vị kiến thức. Trợ giúp, tư vấn bằng thái độ, tình cảm, cử chỉ gần gũi nhất, bằng ngôn ngữ nói-viết để khích lệ và ý muốn vươn tới đạt được kết quả cao hơn trong mỗi cá nhân. Ngoài việc quan sát mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng cần chú ý đến việc phát triển một số năng lực, thể hiện rõ nhất giao tiếp, hợp tác, sự hòa đồng cùng tham gia các hoạt động như trao đổi, đưa ra chứng kiến, phối hợp – thỏa thuận; tinh thần tự quản, tự nghiên cứu tài liệu khi hoạt động cá nhân để giải quyết vấn đề mà nhóm, hoặc giáo viên giao cho. Chú ý đến các biểu hiện Trung thực, kỉ luật, đoàn kết, tự chịu trách nhiệm, tham gia hoạt động giáo dục và các biểu khác của phẩm chất người học. Lắng nghe ý kiến tự đáng giá và bạn đáng giá cũng như ý kiến của cha mẹ đánh giá của cha mẹ khi được tham khảo. Vì sự tiến bộ, vì sự phát triển nên không dùng biện pháp so sánh làm tổn hại ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần và nhân cách của trẻ; đi chệch mục đích đánh giá của thông tư.
Thông tư 30 phân đánh giá thành 2 phần: Đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì: Đánh giá thường xuyên là đánh giá trong quá trình học tập, rèn luyện, của học sinh, được thực hiện theo tiến trình nội dung của các môn học và các hoạt động giáo dục, trong đó bao gồm cả quá trình vận dụng kiến thức, kĩ năng ở nhà trường, gia đình và cộng đồng, là quá trình hàng ngày thực hiện việc quan sát mức độ hoàn thành chưa hoàn thành của cá nhân, nhóm học sinh trong mỗi đơn vị kiến thức, tiết học, bài học ... Hàng tuần, giáo viên lưu ý đến những học sinh có nhiệm vụ chưa hoàn thành; giúp đỡ kịp thời để học sinh biết cách hoàn thành… Như vậy việc quan sát, phát hiện để động viên nhận xét bằng lời nói trực tiếp với học sinh hoặc viết nhận xét vào phiếu, vở của học sinh về những kết quả đã làm được hoặc chưa làm được; mức độ hiểu biết và năng lực vận dụng kiến thức; mức độ thành thạo các thao tác, kĩ năng cần thiết, phù hợp với yêu cầu của bài học, hoạt động của học sinh là nhiệm vụ rất quan trọng của giáo viên để rồi dựa vào đánh giá hàng tuần để hàng tháng, giáo viên ghi nhận xét vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục về mức độ hoàn thành nội dung học tập từng môn học, hoạt động giáo dục khác đúng thực tế, sát với mức độ đạt được và đưa ra các biện pháp cụ thể, riêng biệt giúp đỡ kịp thời đối với những học sinh chưa hoàn thành nội dung học tập môn học, hoạt động giáo dục. Để thực hiện tốt thì yêu cầu cơ bản nhất phải từ việc quan sát, theo dõi quá trình học tập và tham gia các hoạt động của học sinh.
Do vậy, để theo dõi được, quan sát kĩ thì cần có hình thức tổ chức lớp học phù hợp và điều chỉnh phương pháp dạy học.
Điều cốt lõi của đánh giá thường xuyên là từ việc nhận xét bằng lời nói trực tiếp với học sinh hoặc viết nhận xét vào phiếu, vở của học sinh về những kết quả đã làm được hoặc chưa làm được, học sinh trực tiếp thu nhận, cha mẹ học sinh được biết (vở, phiếu, điện thoại…) giúp các em tự điều chỉnh hoặc các bạn hỗ trợ điều chỉnh, cha mẹ biết để cùng giáo viên (nhà trường) giúp đỡ và phối hợp giúp đỡ các em tiến bộ.
Công tác đánh giá định kì chỉ dành cho một số môn học và cho bằng điểm số sẽ giúp giáo viên, cán bộ quản lí đánh giá nét nổi trội của học sinh và những điểm chưa đạt trong một khoảng thời gian (một kì về kiến thức, KN, biểu hiện về một số năng lực, phẩm chất).
Đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì đều nhằm mục đích để điều chỉnh, tư vấn, bổ sung để tiến bộ, để vươn tới tốt hơn. Việc trực tiếp nhận xét bằng lời hoặc viết ra dành cho học sinh và phụ huynh những điểm chưa đạt, tư vấn những điều cần khắc phục là quan trọng nhất. Nó thường được thể hiện bằng ngôn ngữ nói trực tiếp, điện thoại; ngôn ngữ viết trong vở, phiếu, tin nhắn, email, bài kiểm tra … để học sinh biết bổ sung, điều chỉnh… Còn nội dung mang tính lưu hồ sơ tại sổ theo dõi chất lượng và học bạ chủ yếu dành cho công tác theo dõi, các nhà quản lí kiểm tra, biết để xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện đảm bảo mục tiêu giáo dục; học sinh và phụ huynh cơ bản không biết, không đọc các loại hồ sơ này.
Nội dung theo quy định của Thông tư 30 mà giáo viên còn cho là nặng nề, mất thời gian, rườm rà, bí từ … đó là những lời nhận xét. Lời nhận xét về kiến thức, kĩ năng các môn học và hoạt động giáo dục tại sổ theo dõi chất lượng được hướng dẫn rất cụ thể về điểm nổi trội và một số …. Tuy nhiên, qua thực tế vẫn nhận thấy nhiều câu nhận xét còn chung chung, thiếu tính cụ thể và ít tư vấn, động viên khích lệ vươn tới của học trò.
Ví dụ 1: “Cô khen em”; “Bài làm tốt lắm, em cần chú ý trình bày tốt hơn”; Bài em làm khá tốt, nhưng cần tính toán cẩn thận hơn”; “Em làm bài tốt, cần lưun ý đến kĩ năng thực hiện phép nhân có 2 chữ số”… Qua bài kiểm tra cuối kì vẫn còn tình trạng lời nhận xét giống nhau nhưng kết quả điểm lệch nhau đến 2,3 điểm.
 Để có được một lời nhận xét giáo viên cần trả lời được 3 câu hỏi sau: Ở đâu? (địa chỉ), Cái gì? (nội dung) Và tư vấn, động viên, khuyến khích như thế nào?
Khi xét trong môn học và bài học, hoặc bài làm, bài kiểm tra cụ thể thì để trả lời câu hỏi “Ở đâu ?”  là nói rõ bài nào, phần nào, phép tính hay câu nào cụ thể. Trả lời cho câu hỏi Cái gì? là bài toán làm chưa đúng, là câu văn chưa đúng thành phần, là nét chữ chưa đúng, là tẩy xóa sai quy định… và câu hỏi trả lời cho mình đã “Tư vấn, động viên, khuyến khích như thế nào?” là nội dung tư vấn, lời lẽ để động viên em cố gắng vượt qua, cố gắng sửa, điều chỉnh và vươn tới trong sự cố vũ của cô giáo, bạn bè.
Ví dụ 2: Thực hiện các bài tập, tại câu b, BT 2 trang 63 (SGK Toán 2) khi đặt phép tính đã không thẳng cột nhưng kết quả vẫn đúng (các bài khác đúng). Câu nhận xét có thể là: “Bài em làm tốt lắm, ở câu b bài 2 nếu em đặt thẳng cột thì bài làm tuyệt vời”. Câu hỏi “ở đâu” ? (địa chỉ): là câu b BT2; cái gì:  là chưa đặt thẳng cột và trả lời cho ý 3 (động viên, khuyến khích, sửa lỗi): là thật tuyệt vời.
Tuy nhiên cần phụ thuộc vào đối tượng cụ thể, nếu học sinh đó mà hôm trước nắm bài chưa tốt và nay làm được tốt hơn, thì có thể là: “Hôm nay em làm bài tốt lắm, nếu đặt thẳng cột ở câu b bài 2 nữa thì thật tuyệt vời” …
Ví dụ 3: Một học sinh viết các chữ h, b, trong một bài chính tả luôn bị gãy ở nét khuyết trên nhưng toàn bài được đánh giá là khá tốt, lời nhận xét có thể là: “Bài em viết tốt, nếu em luyện viết các nét khuyết để chữ h, b đúng mẫu thì cô và mọi người vui lắm”. Ở đây cũng thấy rõ đã trả lời được 3 câu hỏi ở trên, về ở đâu (địa chỉ): là các chữ h, b; cái gì (nội dung): nét khuyết chưa đúng mẫu (xiên, gãy, chưa đúng cỡ); câu tư vấn động viên: là tiếp tục luyện viết các nét khuyết cho đúng mẫu, khuyến khích là em làm tốt cho bản thân, cô và mọi người cùng vui.
Ví dụ 4: Một học sinh khi làm bài thiếu danh số tại bài 2 và có tẩy xóa ở đáp số bài số 4, ta có thể đưa ra lời nhận xét: “Em đã cố gắng nhiều lắm, nếu ghi thêm danh số (đơn vị đo) ở bài số 2 và lần sau không tẩy xóa như ở đáp số bài 4 thì rất tốt”.
Trong thực tế nếu là các nhận xét bằng lời thì đi kèm theo nó là ánh mắt, cử chỉ và điệu bộ làm tăng thêm sự gần gũi, thân thiện và phấn khích trong học sinh nhiều hơn.
Ví như kèm với lời động viên là một cái xoa đầu nhẹ nhàng từ cô giáo đối với học trò thì chắc rằng có tác động lớn hơn, học sinh sẽ thấy gần gũi, thân thiện, thấy cô giáo thật sự yêu thương mình hơn. Một cái bắt tay và “chúng ta cùng sửa những điều đó nhé”, “Cả lớp cùng khen bạn nào”, “Lớp mình cùng giúp bạn nhé”… là những động lực để cá nhân học sinh vươn tới khi ngoài cô giáo còn có chỗ dựa là bạn bè và cả lớp cùng có nhận thức luôn hỗ trợ lẫn nhau. Cần thay đổi cách thể hiện, cách đưa lời khen, lời động viên để không nhàm chán; cũng cần chú ý hình thức tổ chức hỗ trợ bạn, đôi khi cũng cần nhắc lại cho học sinh lời hứa hỗ trợ bạn và cách giúp bạn trong các hoạt động. Hiệu quả của lời nhận xét cũng đi cùng âm lượng, ngữ điệu tiếng nói (trầm, bổng, to, nhỏ); cần thể hiện được biểu cảm qua lời nói; thật tuyệt nếu là đi cùng với ngôn ngữ hình thể thư một động tác nghiêng người, nhún chân, một cái giơ tay theo ánh mắt, một nụ cười … càng thể hiện được cho học sinh là cô rất vui và vui lắm khi em tiến bộ. Trẻ luôn cần được động viên, cho nên dù có tiến bộ rất nhỏ của học sinh thì người dạy học cũng cần có sự khích lệ kịp thời.
Cách xưng hô trong lời nhận xét rất bổ ích cho cách em. Nên dùng ngôn ngữ gần gũi, trong sáng; câu ngắn gọn, dễ hiểu, đầy đủ bộ phận chính. Ta cũng nên phân biệt giữa cách nói (nhận xét bằng lời) và cách viết cho đối tượng  khác nhau. Cụ thể là ghi nhận xét trong vở, bài kiểm tra, các phiếu học tập thì đối tượng là học sinh và danh tính theo cách xưng hô hằng ngày của giáo viên với học sinh trên lớp, đó là “em”, “con” và thể hiện được mối quan hệ gần gũi cô- trò (GV-HS); đối với ghi vào sổ theo dõi chất lượng, học bạ chỉ mang tính nội dung để theo dõi và quản lí nên chỉ cần đảm bảo yêu cầu nhận xét, đánh giá trong một giai đoạn, do vậy không có xưng hô như trên.
Ví dụ 5: Khi học các bài về Diện tích tam giác (Toán 5), học sinh làm tốt các bài về sử dụng công thức để tính diện tích, lời nhận xét trong vở (sau bài làm ở tiết học) có thể là: “Em nắm chắc cách tính diện tích tam giác và áp dụng vào các dạng toán…” bài tập phần luyện tập học sinh nhầm lẫn khi viết đơn vị đo là cm hay dm, lời nhận xét có thể là: “Bài làm tốt, em nhớ xem lại đơn vị đo ở bài 2 và bài 3 giúp cô nhé” …
          Lời nhận xét ở Sổ theo dõi chất lượng về kiến thức kĩ năng (ý a) sau phần học này ta lược bỏ còn lại, ví dụ: “Nắm chắc cách tính diện tích tam giác và áp dụng vào các dạng toán. Khi đặt phép tính cần đúng khoảng cách, chú ý đơn vị đo và đặt lời giải gọn hơn theo yêu cầu của đề”. Kèm lời nhận xét nội dung chưa đúng, chưa đạt theo yêu cầu, giáo viên nên gạch dưới bằng mực khác màu (với mực của chữ viết) để học sinh biết được địa chỉ và phát hiện ngay nội dung mình chưa đạt để cố gắng luyện tập đảm bảo lần sau không có lỗi như thế nữa.
          Khi ghi lời nhận xét ở vở, bài kiểm tra, phiếu hay sổ theo dõi chất lượng cần chú ý tính cân đối của phần mình viết trong tổng thể bài làm, dùng mực khác màu (tốt nhất là màu đỏ), chú ý đến chữ viết (viết đúng mẫu, càng đẹp - càng tốt) để tăng thêm tính chú ý và tôn trọng của học sinh, phụ huynh đối với giáo viên.         
          Cần phân biệt rõ đánh giá một số biểu hiện về năng lực, phẩm chất. Do quen ý nghĩ chung chung trước đây và chưa coi trọng các phẩm chất này cho nên lẫn lộn do vậy biểu hiện của nội dung Tự phục vụ, tự quản (năng lực) thường lẫn với Tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm (phẩm chất) …
          Cái quan trọng là việc sử dụng Thông tư 30 đã giúp cho giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định đúng những ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi học sinh để có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh. Học sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ hay chưa và đã đạt đến mức độ nào. Ta có thể dễ nhận thấy mức độ đạt của yêu cầu này là cách tổ chức lớp học (cá nhân, nhóm, lớp), kĩ thuật quan sát (vị trí quan sát, thời điểm, cách chọn đối tượng), phát hiện kịp thời điểm tốt, chưa đạt (ai, khi nào, cái gì), hướng dẫn, tư vấn điều chỉnh, bổ sung kịp thời (HD cá nhân, nhóm; thời điểm). Luôn nhận thức làm thế nào để học sinh được học, được vui chơi và luôn có tinh thần chia sẻ, hợp tác, đoàn kết và cùng tiến bộ.
          Trong cuộc sống, công việc, sự thay đổi, cái mới thay thế cái cũ thường mang lại niềm vui, sự hứng khởi, đơn giản như chiếc điện thoại mới, cái xe máy mới mua, bộ thời trang mới, ô tô mới tậu, ngôi nhà mới xây, mới thêm “sao”, mới lên chức ... nhưng cũng những cái có sự xáo trộn, khó chấp nhận ban đầu. Chuyện cái mũ bảo hiểm khi đi xe mô tô, xe gắn máy, nó bảo vệ tính mạng cho bản thân, gia đình mình... nhưng rồi nhà nước phải có luật để xử phạm những người ngồi trên mô tô, xe máy mà không đội nó trên đầu. Thế nhưng, ban đầu ngoài những người vì không biết chọn,  hay vì cái túi tiền quá rỗng mà mua phải cái mũ rởm, nhưng cũng có người cố ý mua cái mũ rởm chỉ để cho có, chỉ để qua cửa khi bị kiểm tra chứ không phải vì tính mạng của mình vì gia đình, người thân mình. Hơi khập khiễng tí, nhưng nói đến chuyện cái Thông tư 30, khi chưa có nó thầy cô giáo chúng ta vẫn nhận xét, vẫn tư vấn, hướng dẫn, vẫn động viên bằng lời, phiếu, điện thoại ...và vẫn ghi nhận xét vào vở, vào bài kiểm tra và ghi nhận xét vào học bạ đấy chứ. Nhưng khi cái 30 ra đời đã tạo sóng mà sóng đầu tiên từ trong lòng của khá nhiều thầy cô giáo rồi đến xã hội. Rồi cũng có và định có việc khắc dấu bản mẫu lời nhận xét ... nhưng nay sóng đã gần tan, sự bình yên đang trở lại và chắc rằng năm học 2014-2015 kết thúc thì sóng về không cho điểm thường xuyên, về việc nhận xét 3 mặt ... chỉ còn những con sóng của dịu êm.
          Lại nhớ đến lời của Tiến sĩ Phạm Ngọc Định, Vụ trưởng vụ GDTH Bộ GD&ĐT những ngày đầu Thông tư 30 đi vào thực hiện: “Mỗi CBQL, GV phải tiếp tục nghiên cứu kỹ thông tư, bằng sự trải nghiệm thực tế của mình, hãy phân tích, so sánh giữa đánh giá cho điểm trước đây, với đánh giá kết hợp cho điểm định kì và đánh giá thường xuyên bằng nhận xét, để hiểu sâu ý nghĩa, tính ưu việt của sự thay đổi. Đặc biệt lí giải cho được vì sao phải đổi mới đánh giá, nội dung cốt lõi của đánh giá mới là gì và điều quan trọng là nó mang lợi ích gì cho học trò? Bởi việc gì có lợi cho học trò, sẽ được sự ủng hộ của phụ huynh học sinh và xã hội. Ban đầu triển khai không tránh khỏi những khó khăn, nhưng khó khăn mà giúp cho học sinh tiến bộ, có hứng thú học tập, học tốt hơn, thì khó khăn mấy cũng quyết tâm làm...”
          Một vài chia sẻ trong quá trình một học kì thực hiện Thông tư 30 mong rằng góp phần nhỏ bé trong công việc đánh giá học sinh tiểu học.

Tác giả bài viết: Lê Hữu Tân - Phòng GD&ĐT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn