CHUC MUNG NGAY 20-11

Liên kết Website

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 27

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 26


Hôm nayHôm nay : 140

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 21393

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1356599

ĐƠN VỊ THIẾT KẾ

Định hướng học sinh tìm hiểu tinh thần tự nhiệm và lòng khoan dung– những nét đặc trưng giàu tính thẩm mỹ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo trong dòng chảy lịch sử văn học Việt Nam

Thứ năm - 25/01/2018 16:25
Định hướng học sinh tìm hiểu tinh thần tự nhiệm và lòng khoan dung – những nét đặc trưng giàu tính thẩm mỹ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo trong dòng chảy lịch sử văn học Việt Nam
Dân tộc Việt Nam có một lịch sử lâu đời. Và chảy cùng dòng lịch sử ngàn năm là bề dày về truyền thống dựng nước và giữ nước của con người Việt. Ở đó nổi lên tinh thần tự nhiệm và lòng khoan dung như những giá trị nhân văn cao đẹp của dân tộc, được thể hiện ở trên mọi bình diện cuộc sống, trong các loại hình văn hóa nghệ thuật, tiêu biểu nhất qua dòng chảy văn học dân tộc.
Đất nước ta có một lịch sử vô cùng đặc biệt, đó là lịch sử dựng nước gắn liền với lịch sử chống giặc ngoại xâm, chống cát cứ phân tranh. Dân tộc luôn có nguy cơ phải đối đầu trực diện với các đế quốc lớn. Do vị trí địa chính trị, địa văn hóa đặc biệt của nước ta nên từ đầu Công nguyên đến nay, dân tộc luôn phải tiến hành nhiều cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Hai mươi mốt thế kỉ đi qua, dân tộc Việt Nam đã có tới mười hai thế kỉ chống xâm lược, chống đô hộ. Trải qua nhiều cuộc chiến tranh vệ quốc nên từ rất sớm người Việt đã có một tinh thần yêu nước, đoàn kết, tương thân tương ái, chia sẻ đùm bọc và thứ tha cho nhau. Tinh thần đó đã kết tinh thành những nét rất đặc trưng của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo của dân tộc Việt. Trong đó tinh thần tự nhiệm và lòng khoan dung nổi lên như những giá trị tinh thần vô cùng cao quý.
Hội nhập và giao lưu quốc tế là một xu thế tất yếu của nhân loại ở thế kỉ XXI. Trong quá trình hội nhập đó, một mặt thời đại mới mở ra rất nhiều cơ hội để các quốc gia, các nền văn hóa giao lưu, tương tác và phát triển; mặt khác trong quá trình hội nhập cũng sẽ diễn ra quá trình “cưỡng bức văn hóa” cùng những mặt trái của cơ chế thị trường tấn công vào tất cả các quốc gia, dân tộc. Để hội nhập, giao lưu và phát triển thành công, bền vững, yếu tố văn hóa, những giá trị nhân văn cao đẹp của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia chính là sức mạnh mềm để mỗi cá thể cũng như từng dân tộc đẩy lùi, miễn nhiểm với những thứ “mã độc” do bên ngoài tấn công.
Thực hiện thành công Nghị quyết 29/NQ-TW về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó dạy học chú trọng theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học đang đòi hỏi người giáo viên những nổ lực lớn. Nhiệm vụ người giáo viên trong việc thực hiện có hiệu quả tinh thần đổi mới giáo dục là hết sức vất vả, khó khăn. Thiết nghĩ, để thành công, mỗi giáo viên không ngừng tự học, chủ động tiếp biến những giá trị mới của thời đại, kết hợp với việc dung hòa các giá trị truyền thống để định hướng cho người học cách tư duy về phương pháp học tập và rèn luyện nhân cách, bản lĩnh là vô cùng quan trọng. Xuất phát từ những trăn trở đó, chúng tôi mạnh dạn xác định hướng dạy học gắn với những chủ đề có tính kết nối theo chiều lịch đại để giúp người học nhận diện ra những nét đặc trưng nhất của diện mạo đời sống tinh thần, tư tưởng tình cảm của dân tộc đó là lòng khoan dung và tinh thần tự nhiệm qua bộ môn Ngữ văn, một môn học có vị trí đặc biệt trong hệ thống giáo dục của nước ta và nhiều nước trên thế giới. Môn học công cụ: Học văn – Học làm người. Bởi một lẽ thật tự nhiên và cao quý: “Văn học là nhân học” (Maxim Gorki).
Tinh thần thần tự nhiệm là tinh thần, ý thức tự giác tự ghánh lấy trách nhiệm, xem trách nhiệm đối với cộng đồng, với đất nước là một nghĩa vụ cao đẹp. Khi đất nước rơi vào hoàn cảnh có chiến tranh thì muôn triệu con Rồng cháu Tiên tự đứng vào hàng ngũ những người con quyết tử  cho dân tộc mãi mãi trường tồn. Yêu nước trở thành một giá trị sống thiêng liêng, tự nhiệm đã trở thành lẽ sống của con người Việt Nam.
Khoan dung là tha thứ cho người mắc lỗi. Khoan dung ở đây có thể dành cho một cá nhân, một cộng đồng và cũng có thể là sự tha thứ của dân tộc này đối với dân tộc khác. Riêng những kẻ đi xâm lược nước ta, khi chúng xâm phạm đến bờ cõi, lãnh thổ thiêng liêng của người Việt, chúng sẽ bị nhân dân ta chống cự quyết liệt, chiến đấu đến cùng giành bằng được độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Và khi giành được thắng lợi hoàn toàn, người Việt Nam lại lựa chọn cách ứng xử hòa hiếu hòa hợp, hòa hảo bang giao. Bản tính người Việt Nam đã được Nguyễn Đình Thi khắc họa chân xác trong câu thơ: “Đạp quân thù xuống đất đen/Súng gươm vút bỏ lại hiền như xưa”.
Lịch sử văn học xét đến cùng là lịch sử tâm hồn dân tộc. Trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người con đất Việt luôn chảy mãi tinh thần tự giác, tự ghánh lấy trách nhiệm và lòng khoan dung để xây dựng, bảo vệ sự trọn vẹn non sông, độc lập của Tổ quốc. Tinh thần tự nhiệm và lòng khoan dung là những giá trị cao quý. Có những tác phẩm viết về đề tài giữ nước và dựng nước song song hai giá trị đó cùng tồn lại, làm nổi bật giá trị tư tưởng nhân văn của truyền thống con người Việt; một số tác phẩm, do đối tượng và mục đích hướng tới, mỗi tư tưởng tồn tại như một giá trị độc lập.
Trong khuôn khổ một đề tài, chúng tôi xin bước đầu tìm hiểu tinh thần tự nhiệm và lòng khoan dung của con người Việt Nam trong văn học qua một số tác phẩm thuộc các thể tài truyền thuyết, văn nghị luận, văn tế, truyện ngắn: Truyền thuyết Thánh Gióng (Tác giả dân gian), Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi), Chiếu cầu hiền (Ngô Thì Nhậm), Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)  và truyện Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)  để có cái nhìn mang tính lịch đại qua mỗi thời kì văn học và cũng là mỗi chặng đường lịch sử dân tộc từ xa xưa đến thời trung đại và vắt qua thời hiện đại hôm nay.
Truyền thuyết Thánh Gióng được lưu truyền từ rất lâu. Đại Việt sử ký toàn thư phần Ngoại kỷ toàn thư, kỷ Hồng Bàng thị ghi chép về Thánh Gióng như sau: “Đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông bà lão nghèo chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức thế mà họ vẫn chưa có con. Một hôm bà ra đồng thấy một vết chân rất to liền ướm thử xem thua kém bao nhiêu, không ngờ về nhà bà thụ thai và 12 tháng sau sinh được một cậu bé khôi ngô tuấn tú. Kì lạ thay, cậu bé ấy lên ba mà vẫn không biết nói cười, đặt đâu nằm đấy. Gặp lúc trong nước có tin nguy cấp, vua sai người đi tìm người có thể đánh lui được giặc. Ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo mẹ ra mời thiên sứ vào, nói: "Xin cho một thanh gươm, một áo giáp sắt và một con ngựa, vua không phải lo gì". Vua ban cho gươm và ngựa, đứa trẻ liền phi ngựa vung gươm tiến lên trước, quan quân theo sau, đánh tan quân giặc ở chân núi Trâu. Bọn giặc giẫm đạp lên nhau mà chạy. Thánh Gióng đuổi theo, tới chân núi Sóc thì dừng. Đứa trẻ cởi áo giáp, phi ngựa lên trời mà đi. Vua sai sửa sang chỗ vườn nhà của đứa trẻ để lập đền thờ, tuế thời cúng tế. Về sau, Lý Thái Tổ phong là Xung Thiên Thần Vương. Đền thờ ở cạnh chùa Kiến Sơ, hương Phù Đổng.
Truyện gây hứng thú nhất cho người nghe, người đọc là chi tiết đứa trẻ đã ba tuổi không biết nói nay bỗng nhiên cất tiếng xin đi đánh giặc cứu nước. Thoạt nghe, đây là một chi tiết hoang đường, bởi để nói được thành lời, diễn đạt trọn vẹn câu nói đứa trẻ bình thường phải trải qua một quá trình tập nói. Nhưng thật lạ kì, tiếng nói đầu tiên của Gióng là câu nói đánh giặc giữ nước. Đặt chi tiết này trong tính chức năng của thể tài truyền thuyết chúng ta nhận ra được cái lõi sự thật lịch sử, ý nghĩa nhân sinh của thông điệp nghệ thuật mà cha ông xưa đã gửi gắm sâu kín vào đây. Người Việt Nam bao đời xúc động trước câu nói của Thánh Gióng bởi nó đã chạm vào trái tim muôn triệu con dân Việt: Khi có giặc ngoại xâm thì bất kì ai, dù gái hay trai, già hay trẻ đều có một trách nhiệm đứng lên đánh giặc. Ý thức bổn phận đối với cộng đồng đã có từ lúc thơ trẻ của mỗi người con dân Việt. Nhất là lúc danh dự của cộng đồng có nguy cơ bị tổn hại thì từ trong máu thịt con người Việt Nam đã cất lên tiếng nói thiêng liêng nhất và cũng tự nhiên nhất: Tiếng nói yêu nước. Và chi tiết tưởng như rất ảo hóa ra lại rất thực. Thực ở chỗ nó là minh chứng, là sự lí giải về số phận lịch sử lạ kì của dân tộc ta. Từ trong trứng nước người Việt đã phải gồng mình chống thiên tai và giặc dữ. Khi giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Tinh thần tự nhiệm đã biến đứa trẻ lên ba có sức mạnh của thánh thần. Để rồi khi đất nước sạch bóng quân thù, những người con của Tiên Rồng đã hóa thành bất tử, đã hóa thần để sống mãi trong tâm hồn dân tộc. Được nhân dân tôn thờ, trở thành một trong bốn vị thần “tứ bất tử”.
Nếu như trong Truyền thuyết Thánh Gióng nhân vật là con người có sức mạnh siêu nhiên thì trong tác phẩm Bình Ngô đại cáo, sức mạnh, tầm vóc của dân tộc, của con người Việt Nam được kết tinh vào hình tượng người anh hùng Lê Lợi. Lê Lợi hiện lên trong bài cáo là con người tâm trạng, con người chí lớn với tinh thần tự nhiệm, lòng khoan dung vô cùng cao đẹp. Vị thủ lĩnh của nghĩa quân Lam Sơn trở thành biểu tượng sức mạnh của dân tộc, kết tinh những giá trị cao đẹp của con người Việt Nam.
Ngược dòng lịch sử giai đoạn vãn Trần, khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, giặc Minh đã mượn gió bẻ măng, hiện thực hóa dã tâm xâm lược. Cũng như bao lần xâm lược nước ta, kẻ thù thường tạo ra một nguyên cớ để “chính danh” hành động xâm chiếm. Và lần này, giặc Minh đã rêu rao luận điệu “Phù Trần diệt Hồ”,  lấy cớ trị tội Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần để hợp thức hóa âm mưu xâm lược. Đất nước trầm luân trong bể máu, họa núi xương sông máu đã làm nhức nhối tâm can giống nòi. Từ mảnh đất heo hút núi Lam Sơn, với ý thức tự nhiệm cao đẹp, Lê Lợi đã phất cờ khởi nghĩa: “Núi Lam Sơn dẫy nghĩa/Chốn hoang dã nương mình”. Ngẫm mối thù lớn, thề không đội trời chung, vị minh chủ đã tập hợp được lực lượng chống giặc, thu phục được lòng người, tiến hành khởi nghĩa ròng rã suốt 10 năm làm nên nghiệp lớn.
Sau chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi đứng trước các mối quan hệ chồng chéo, phức tạp, trong đó có việc ứng xử với các bề tôi trung và thiên triều. Lúc bấy giờ, các tướng sỹ và nhân dân đang ngút ngàn lòng căm thù quân tàn bạo phương Bắc nên tâu lên hoàng đế giết hết bọn hàng binh để rửa oan cho sinh linh Đại Việt. Biết được sự khó xử của Lê Thái Tổ, Nguyễn Trãi đã trình dụ hóa giải mối khó xử của Lê Lợi và mâu thuẫn dân tộc bằng một giải pháp dựa trên tư tưởng khoan dung đại lượng của dân tộc: "Việc phục thù trả oán, là tình thường của mọi người, nhưng không ưa giết người, là bản tâm của người nhân. Huống chi người ta đã hàng, mà mình lại giết chết, thì còn gì bất tường hơn nữa. Ví bằng giết đi cho hả giận một lúc, để gánh lấy tiếng xấu giết kẻ hàng mãi tới đời sau, chi bằng hãy cho sống ức vạn mạng  người, để dứt mối chiến tranh tới muôn thuở, công việc sẽ chép vào sử sách, tiếng thơm sẽ truyền tới ngàn thu, há chẳng đẹp lắm ư?".
Việc làm ấy là việc làm của bậc thánh nhân: “Thần vũ chẳng giết hại/Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh”. Hành động phi thường đó đáng để cho vị chủ tướng đất Lam Sơn tự hào: “Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng/Ta lấy toàn quân là hơn để nhân dân nghỉ sức/Chẳng những mưu kế kì diệu/Cũng là chưa thấy xưa nay”. Cách hành xử ấy không những làm cho bề tôi bái phục độ lượng khoan hồng của Hoàng đế Lê Thái Tổ mà còn khép lại một giai đoạn lịch sử đẫm máu của dân tộc chỉ tính từ khi Đại Việt giành độc lập năm 938, mở ra một kỉ nguyên độc lập, hòa bình cho dân tộc. Tầm vóc của cuộc chiến thắng và tầm vóc của người anh hùng Lê Lợi quả đúng là “chưa thấy xưa nay”. Cách hành xử của người Việt Nam đối với quân giặc  sáng ngời tư tưởng khoan dung. Và lịch sử đã chứng minh tính nhân văn của cách hành xử đúng đắn ấy: gần bốn thế kỉ tiếp đó, đất nước ta sạch bóng quân thù phương Bắc! Chỉ đến khi tên vua Chiêu Thống cống rắn cắn gà nhà, quân Thanh mới lục tục kéo sang và đã sớm bị hoàng đế Quang Trung đánh cho một trận tơi bời, trên 50 vạn quân: “Về đến nước mà vẫn tim đập chân run”.
Ở thể loại văn nghị luận trung đại, Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm là một áng văn tiêu biểu của đề tài kiến thiết đất nước thời hậu chiến. Nếu như trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã thay Lê Lợi chấp bút để viết nên một áng hùng văn muôn đời thì Chiếu cầu hiền cũng là một bản cầu hiền lưu danh kim cổ. Văn bản đã được một vị tôi hiền của vua Quang Trung chấp bút là Ngô Thì Nhậm, một trí thức Bắc Hà có duyên nợ với tiên triều và nhân duyên tốt đẹp với tân triều của đức hoàng đế Quang Trung. Dưới ngòi bút của Ngô Thì Nhậm, vua Quang Trung không chỉ là người có tầm nhìn xa trông rộng mà còn là người khoan dung độ lượng, vừa khiêm tốn, cầu thị, mềm mỏng vừa quyết đoán, anh minh. Lấy đại cục làm trọng, xóa bỏ mặc cảm, hận thù, tạo lập tư tưởng hòa hiếu, hòa hợp dân tộc, thống nhất giang sơn sau gần hai thế kỉ chia cắt, đánh tan đội quân xâm lược hùng mạnh Mãn Thanh, xóa bỏ hiềm khích giữa người đàng Trong với người đàng Ngoài, mở ra một trang mới cho lịch sử thống nhất nước nhà.
Cũng xuất thân từ vùng rừng núi như vua Lê Thái Tổ, Hoàng đế Quang Trung khởi nghiệp từ miền sơn cước Bình Định thuộc địa phận Đàng Trong. Nghe tiếng gọi cứu nước của giống nòi, anh em nhà họ Nguyễn Tây Sơn đã dẫy binh phạt tội. Sau ngày đại thắng, bắt tay vào việc  gây dựng lại đất nước, nhà vua đã thể hiện đức khiêm nhường, cầu thị trong chiêu hiền đãi sỹ. Nếu Lê Lợi ngày trước “Tấm lòng cứu nước/Vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông/Cỗ xe cầu hiền/Thường chăm chăm còn dành phía tả”, thì đức hoàng đế Quang Trung cũng một mực khiêm nhường: “Ghé chiếu lắng nghe” mưu lược trị nước của các bậc hiền sỹ trong thiên hạ. Đứng trên đài cao chiến thắng, vua Quang Trung đã có cách hành xử vô cùng khôn khéo và chân thành để thu phục nhân tâm, tìm kiếm người tài ra giúp đời trị nước. Tự xét mình, đặt mình vào hoàn cảnh người khác và biết cách ứng xử khoan dung với người đã trở thành nguyên tắc hành xử chuẩn mực của vị vua anh minh: “Nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, ngày đêm mong mỏi, nhưng những người học rộng tài cao chưa thấy có ai tìm đến. Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng? (…) Chiếu này ban xuống, các bậc quan viên lớn nhỏ, cùng với các thứ dân trăm họ, người nào có tài năng học thuật, mưu hay hơn đời, cho phép được dâng sở tâu bày sự việc. Lời nói nào có thể chọn dùng được, thì cất nhắc không kể thứ bậc; chỗ nào không dùng được thì gác lại, không vì lời nói sơ suất vu khoát mà bắt tội. Còn người có nghề hay nghiệp giỏi, có thể cống hiến cho đời, thì cho phép các quan văn, quan võ tiến cử, nhưng vẫn dẫn vào đợi ra mắt, tùy tài lục dụng. Hoặc người nào từ trước đến nay tài năng còn bị che kín, chưa được người đời biết đến, thì cũng cho phép dâng sở tự tiến cử, chớ hiềm vì mưu lợi mà phải bán rao”.
Lê Lợi và Quang Trung thực sự xứng đáng là người đại diện cho tư tưởng, tính cách của một dân tộc khoan dung và anh hùng. Các bậc đế vương đã có được thiên hạ nhờ tấm lòng khoan dung và tinh thần tự nhiệm vô cùng cao đẹp.
Trong các tác phẩm viết về chiến tranh vệ quốc của dân tộc ta, bên cạnh những áng văn mang đậm âm hưởng hào hùng còn có nhiều áng văn mang âm hưởng bi tráng. Trong đó, các bài văn tế của Đồ Chiểu là những áng văn lay động lòng người bởi tinh thần tự nhiệm cao đẹp. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là áng văn tế hay vào bậc nhất của thể loại văn tế của dân tộc ta. Lần đầu tiên trong lịch sử văn học tác giả Nguyễn Đình Chiểu đã dựng một tượng đài nghệ thuật về hình tượng những người nông dân chống thực dân Pháp tương xứng với phẩm chất vốn có của họ ở ngoài đời.
Hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc được nhà thơ giới thiệu nguồn gốc xuất thân từ nông dân nghèo “cui cút làm ăn” lo toan cái khó cái nghèo quanh năm đeo bám. Cũng vì xuất thân như thế nên họ “chưa quen cung ngựa, chỉ biết ruộng trâu”. Và khi có giặc, tâm lí của họ được nhà văn miêu tả rất chân thực với một quá trình: cảm thấy lo sợ rồi trông chờ quan trên; trong quan niệm của đám thảo dân, quan trên là bậc “phụ mẫu chi dân” có thiên chức chăn dắt nhân dân, đến lúc biến cố xẩy ra thì “Trông người người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi” (Nguyễn Trãi). Nỗi lo âu đã hóa thành sức mạnh căm thù. Để cuối cùng người nông dân Cần Giuộc đã đứng lên chống lại kẻ xâm lược. Vốn có tinh thần tự nhiệm chảy trong dòng máu Lạc Hồng, người nông dân nghĩa quân đã chiến đấu với một tâm niệm: “Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạt kình/Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, phen này quyết ra tay bộ hổ” .
 Quân trang, quân bị vô cùng thô sơ, vũ khí chiến đấu của nghĩa quân có ngoài cật chỉ manh áo vải, trong tay chỉ ngọn tầm vông; lưỡi dao phay, rơm con cúi là những gì gắn với đời sống thường nhật của người dân nghèo nay hóa thành vũ khí diệt thù. Bằng sức mạnh tinh thần, nghĩa quân đã lập được chiến công: “đốt xong nhà dạy đạo”,  “ chém rớt đầu quan hai nọ”. Tác giả sử dụng những động từ cảm giác mạnh với mật độ cao diễn tả nhịp độ khẩn trương: “ đạp”, “lướt”, “xông” đặc biệt là những động từ chỉ hành động dứt khoát “ đốt xong”, “chém rớt đầu”; sử dụng các động từ chéo “ đâm ngang”, “chém ngược” diễn tả sự quyết liệt của trận đánh, sự xả thân vì nghĩa của người anh hùng.
Sự lựa chọn, hi sinh của người nông dân mang triết lí ngàn đời của dân gian: “Thà thác mà đặng câu địch khải, về theo tổ phụ cũng vinh; còn hơn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”. Người nghĩa quân nông dân đã sống một đời bình dị như cỏ hoa đến khi có giặc họ đã hi sinh cho đất nước quê hương với tinh thần quả cảm. Nỗi đau, mất mát tang thương ấy là nỗi đau của lịch sử của cả thời đại khi xung đột Đông – Tây đã nghiêng phần thắng về kẻ có tiềm lực quân sự. Bài văn tế đã trở thành khúc tráng ca về những người anh hùng nghĩa sĩ xuất thân từ nông dân.
Mẫu hình con người Việt Nam là con người bổn phận. Bổn phận với quốc gia, với dòng họ và gia đình. Ý thức bổn phận đã trở thành một nét văn hóa trong hành xử của con người Việt. Khi nói tới bổn phận ta thường nghĩ tới nghĩa vụ của cá nhân với cộng đồng, công dân với xã hội. Nghĩa vụ lớn lao ấy phải và trước hết là nghĩa vụ của những người trưởng thành, những người có địa vị trong cộng đồng. Nhưng thật lạ kì, qua nhiều tác phẩm văn học chúng tôi ngẫu nhiên lựa chọn ở đây thì tinh thần tự nhiệm, ý thức bổn phận ấy lại hiện lên trọn vẹn và đẹp đẽ  những lớp người bình dị vô danh như người nông dân Nam Bộ trong Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc hay đứa trẻ mới lên ba trong truyền thuyết Thánh Gióng... Và trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình cũng thế, những con người tự viết nên lịch sử của chính mình, của quê hương đất nước cũng là những đứa trẻ mới lớn.
Và những đứa trẻ mới lớn của Nguyễn Thi đã nghĩ gì, đã làm gì khi quê hương ngút ngàn khói lửa chiến tranh? Chúng ta cùng đọc lại những trang văn, những đoạn văn đầy xúc động đó: “Ngày má chết rồi, ý nghĩ đi bộ đội cũng thôi thúc Việt như vậy. Nhưng hồi đó rắc rối hơn đêm nay bò tới mặt trận nhiều. Việt vừa ngỏ lời ra, chị Chiến đã giành đi trước (...)Việt đi đâu chị Chiến cũng dòm chừng, coi Việt có bọc quần áo theo không (...) Trong đêm mít tinh để ghi tên thanh niên tòng quân, trước mặt bà con cả xã, đèn sáng rực, anh cán bộ của huyện vừa dứt lời, cả hai chị em Việt giành nhau chạy lên.
- Tôi tên là Việt, anh cho tôi đi bộ đội với.
Chị Chiến đứng sau Việt thở:
- Đề nghị mấy anh xét cho. Nó là em tôi mà cái gì nó cũng giành (...)
 - Chú Năm nói mầy với tao đi kì này là ra chân trời mặt biển, xa nhà thì ráng học chúng học bạn, thù cha mẹ chưa trả mà bỏ về là chú chặt đầu.
Việt lăn kềnh ra ván cười khì khì:
- Chị có bị chặt đầu thì chặt chớ chừng nào tôi mới bị.
- Tao đã thưa với chú Năm rồi. Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!”
Một sự lựa chọn trong sáng và cao đẹp của những con người trẻ tuổi. Một lựa chọn thanh thản mà xúc động vô cùng. Ý thức tự nhiệm, xả thân vì thù nhà nợ nước sáng ngời tinh thần bất khuất gói gọn trong một câu nói giản dị mà chứa chan nhiệt huyết: “Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!”. Lời hứa rực sáng một lẽ sống, một chân lí muôn đời của người dân đất Việt. Một sự lựa chọn mang tính lịch sử. Câu nói của nhân vật Chiến trong tác phẩm của Nguyễn Thi mà ta nghe như câu nói vọng về của Trần Hưng Đạo chống Nguyên Mông năm xưa: "Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng" !
Những đứa con trong gia đình là tác phẩm xuất sắc của nhà văn liệt sỹ Nguyễn Thi và cũng là một trong những thiên truyện ngắn tiêu biểu của văn học thời chống Mỹ. Thiên truyện được Nguyễn Thi hoàn thành vào tháng 2 năm 1966. Nếu lấy mốc ngày 08/03/1965 đế quốc Mỹ ồ ạt đổ quân vào nước ta tiến hành cuộc Chiến tranh Cục bộ ở miền Nam và những dòng nhật kí chiến trường nhà văn để lại, bạn đọc hôm nay mới thấy hết được không khí hào hùng trước cuộc chạm trán đầy thử thách của dân tộc ta trong những ngày lịch sử đó. Thiên truyện đã ra đời trong những ngày tháng “sôi sục, nghiêm trang, nghiêm trọng, lo lắng, quyết liệt, hào hứng, hào hùng: dân tộc ta bước vào cuộc chạm trán mất còn trực tiếp với đế quốc Mỹ” (Nguyên Ngọc).
Truyện Những đứa con trong gia đình thuộc vào những tác phẩm xuất sắc nhất được viết trên báng súng trong cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc. Người đọc xúc động trước sự trưởng thành vượt bậc của những đứa trẻ Nam Bộ trong những năm tháng ác liệt. Dường như số phận đã luôn muốn thử thách con người Việt Nam, dân tộc Việt bằng những cam go và ác liệt nhất. Những thử thách của lịch sử trong mấy nghìn năm qua buộc đứa trẻ lên ba khi cất tiếng chào đời thì câu nói đầu tiên là câu nói xin đi đánh giặc, người con gái tuổi mười tám nơi thành đồng Tổ cuốc khi nói về sự lựa chọn sống còn của bản thân chỉ nói một câu : “Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!”. Những đứa trẻ chưa đủ tuổi nhập ngũ nhưng đã đủ khôn để trưởng thành sớm, vượt lên bão tố phong ba của thời đại. Chính sức mạnh của nguồn cội, truyền thống của gia đình, tinh thần tự nhiệm đã làm cho mỗi thành viên trở nên chín chắn hơn, vững vàng hơn trước bão táp của lịch sử. Cái quá khứ đang hiện hình trong cái hôm nay, đau thương xưa đang hun đúc thêm lòng quyết tâm chiến đấu. Bề dày văn hóa, chiều sâu tâm linh đã giúp cho con người thêm vững niềm tin. Trước đêm xa nhà đi chiến đấu, “Cả chị cả em cùng nhớ đến má. Hình như má cũng về đâu đây. Má biến theo ánh đom đóm trên nóc nhà hay đang ngồi dựa vào mấy thùng lúa mà cầm nón quạt? Đêm nay, dễ gì má vắng mặt, má cũng phải về dòm ngó coi chị em Việt tính toán việc nhà làm sao chớ?”. Đoạn văn được trần thuật theo điểm nhìn của nhân vật đã giúp người đọc hiểu được tình cảm gia đình và tâm thế đi vào cuộc chiến của con người Việt Nam. Những giá trị nhân bản đã bồi thấn thêm niềm tin ở mỗi người về một ngày mai tất thắng.  Người đọc thêm một lần tin và yêu hơn khi nghe chú Năm dặn dò hai cháu: “Chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó. Chú kể chuyện con sông nào ở nước ta cũng đẹp, lắm nước bạc, nhiều phù sa, vườn ruộng mát mẻ cũng sinh ra từ đó, lòng tốt của con người cũng sinh ra từ đó. Trăm sông đổ về một biển, con sông của gia đình ta cũng chảy về biển, mà biển thì rộng lắm, chị em Việt lớn lên rồi sẽ biết, rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả nước ta”.
Phù sa của những dòng sông trên khắp lãnh thổ Việt Nam đã bồi đắp cho đất nước những bờ bãi xanh tươi; truyền thống yêu nước thương nòi, ý thức vì cộng đồng vì nghĩa lớn đã kết thành trầm tích văn hóa ứng xử của con người Việt, những con người luôn sống bằng bổn phận, bằng sự khiêm nhường, khoan dung và tự giác, những con người khi Tổ quốc cần họ sẵn sàng quết tử cho Tổ quốc quyết sinh.
Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng, một dân tộc yêu hòa bình. Đã bao phen đất nước bị xâm lăng thì tâm thế bước vào cuộc chiến tranh của lớp lớp con Rồng cháu Tiên là tâm thế của những anh hùng vệ quốc. Sau mỗi lần chiến thắng dân tộc ta lại “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi).
 Sự kế tiếp về cách nhìn con người đi qua chiến tranh và xây dựng lại đất nước thời hậu chiến của các nhà văn nhà thơ vì thế gần gũi, hấp dẫn đối với tâm lí độc giả nhiều thế hệ. Tinh thần tự nhiệm, ý thức công dân, con người bổn phận, lòng khoan dung mãi mãi là những giá trị tinh thần cao quý của con người Việt Nam, là sức mạnh mềm của dân tộc Việt đồng hành cùng lịch sử hào hùng của dân tộc.

Tác giả bài viết: Phan Quốc Thanh - PTP, Phòng GD&ĐT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn