Saturday, 08/08/2020 - 19:29|
CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN HƯƠNG KHÊ
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đổi mới dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh bắt đầu từ khâu thiết kế bài học

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một quá trình. Mỗi khâu, mỗi bước triển khai trong dạy học và hoạt động giáo dục theo tinh thần đổi mới phải chuyển từ việc chú trọng trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực người học. Để hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất người học, thiết nghĩ bước đầu tiên của nhà giáo trong các cơ sở giáo dục hiện nay là phải đầu tư thiết kế các hoạt động học cho học sinh. Muốn đổi mới thực sự ở nhà trường hiện nay,phải bắt đầu từ việc thiết kế bài học.

Việc chuẩn bị bài lên lớp một thời được gọi bằng một cụm từ đã thành quen thuộc: “Soạn bài”, sản phẩm chuẩn bị của giáo viên được gọi là “Bài giảng”, với nghĩa soạn ra để giảng. Khi kiểm tra hồ sơ, giáo án của đồng nghiệp, chúng ta thường có nhận xét: “giáo án chất lượng…”…Cụm từ “giáo án” ngầm chứa ý cơ bản là một bài soạn để thuyết trình/một sản phẩm phục vụ cho việc giáo viên nói, giảng bài cho học sinh nghe theo một kịch bản được chuẩn bị/ấn định trước. Đi cùng với nó là một hệ thống câu hỏimà phần nhiều là để hướng tới việc khơi gợi/định hướng học sinh tiệm cận với nội dung kiến thứcbài học cần đạt/tiết dạy hướng tới. Một bài dạy thành công phụ thuộc rất nhiều vào nghệ thuật, cách khéo dẫn dắt của giáo viên để học sinh nhập cuộc một cách “tự nhiên có chủ đích” của người thầy. Trong một tiết dạy, giáo viên và học sinh tiếp cận được càng nhiều kiến thức của bài học càng tốt. Giáo viên giỏi thường được ngầm hiểu là người có kiến thức sâu, uyên thâm, có phương pháp giảng lôi cuốn.

Xuất phát từ mục tiêu và phương pháp dạy học mới, cách gọi hoạt động chuẩn bị bài của giáo viên là hoạt động thiết kế bài học có phần hợp lí và quen dùng hơn. Lúc này, giáo án không dừng lại là một bài giảng được chuẩn bị kỹ để nhà giáo lên trình bày với học sinh mà đã trở thành một kịch bản có dự định, dự đồ, một phác thảo, dự kiến của người dạy.

Căn cứ vào mục tiêu của chương trình, môn học và tiết học, giáo viên xây dựng một kịch bản hướng dẫn học sinh hoạt động. Học sinh là nhân vật trung tâm, là người tham gia hoạt động (hoạt động cả trí não, tay chân, hoạt động đối thoại…với ý tưởng/cách tiếp cận của bạn học (nhóm bạn) và của chính mình (của nhóm mà mình là một thành viên)...

Về mục tiêu bài học, giáo viên cần tránh máy móc, rập khuôn, bê nguyên xi mục tiêu của môn học. Ở mỗi môn học, chương trình xác định một số năng lực, phẩm chất cốt lõi. Tùy vào bài học, người dạy phải xác định được đâu là phẩm chất, năng lực nổi bật sẽ được thể hiện trong bài dạy.Ngoài những phẩm chất, năng lực cốt lõi theo chương trình môn học cũng cần xem xét liệu có những phẩm chất, năng lực nào có thể hình thành và phát triển cho người học thông qua bài dạy cụ thể hay không để chủ động trong định hướng người học. Một lưu ý là không phải chỉ qua một bài dạy/tiết dạy mà hình thành ngay được phẩm chất và năng lực cốt lõi mà phải qua một quá trình, cần một sự lặp lại có chủ đích trong dạy và học thì mới định hướng, hình thành và phát triển được.

Một trong các bước của thiết kế giáo án năng lực, khâu hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà là rất quan trọng. Giáo viên phải dành thời gian chuẩn bị các nội dung hướng dẫn để chuyển giao nhiệm vụ cho học sinh một cách chu đáo, giao nhiệm vụ cụ thể, tránh nói vớt sau mỗi tiết dạy. Nếu xem nhẹ phần hướng dẫn tự học và học nhóm thì trong 45 phút của mỗi tiết học, giáo viên không thể đẩy nhanh tiến độ các hoạt động. Tiến độ chậm, người dạy có cảm giác là dạy học theo phương pháp mới khá rườm rà và quá tải đối với học sinh. Đây là một tâm lí dễ nẩy sinh vì nhiều lẽ.

Trong thiết kế hoạt động dạy học, gần đây Bộ Giáo dục và Đào tạo có đưa ra mô hìnhthiết kế giáo án năng lực theo 5 bước. Qua nghiên cứu và triển khai thực hiện, chúng tôi thấy kiểu giáo án này khá hợp lý, giúp giáo viên thể hiện kịch bản dạy học hiệu quả, đạt được mục tiêu, nội dung chương trình. Việc tuân thủ 5 bước cũng khá linh hoạt mặc dầu mỗi bước hoạt động có một mục tiêu và nhiệm vụ không hoàn toàn giống nhau.

Trong khuôn khổ bài viết và chuyên môn được đào tạo, chúng tôi xin được trao đổi việc thiết kế bài học theo định hướng hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh ở môn học Ngữ văn. Và minh chứng của nội dung bài viết, chúng tôi chỉ dừng lại ở kiểu bài  đọc hiểu văn bản văn học như một đối tượng để bàn luận.

Hoạt động khởi động, bước thứ nhất của một giờ học:

Phải khẳng định rằng, không phải đến thiết kế giáo án năng lực, chúng ta mới có hoạt động khởi động. Ngay từ mẫu giáo án truyền thống, bước thứ nhất của giáo án dù là hỏi bài cũ hay tạo tình huống cũng đã là một hoạt động khởi động rồi. Điểm khác chăng là ở sự quy định mục tiêu và phương pháp dạy học đã “cấp” cho hoạt động khởi động một số yêu cầu/mục tiêucao hơn.

Trước đây, mục đích của khởi động là để tạo sự chú ý, thu hút người học/cuốn người học tập trung vào tiết học/bài học, tạo hứng thú  trước khi học bài mới.

Đối với hoạt động dạy học định hướng hình thành phát triển phẩm chất và năng lực người học,tình huống khởi động mà giáo viên đưa ra không dừng lại ở sự gây chú ý/gây hứng thú cho người học mà phải tạo ra được một tình huống nhận thức có tính mâu thuẫn. Buộc người học phải tư duy/phải “động não” thật sự và phải tham gia vào quá trình hoạt động học mới tìm ra câu trả lời trọn vẹn/thỏa đáng của tình huống mà giáo viên nêu ra.

Cùng dạy cụm truyền thuyết Việt Nam ở chương trình Ngữ văn lớp 6,nếu dạy học theo kiểu truyền thống, giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin cho học sinh xem một trích đoạn, một hoạt cảnh hoặc một bài hát như bài Dòng máu Lạc Hồng chẳng hạn. Khi đoạn trích/ bài hát vang lên, tất cả học sinh được/bị cuốn vào hoạt động xem/nghe. Sau đó, giáo viên có lời dẫn đưa học sinh vào bài mới một cách khéo léo/tự nhiên. Với mục đích tạo sự hứng thú, lôi cuốn người học thì hoạt động khởi động như trên đã đạt yêu cầu.

Tuy nhiên, để phát triển năng lực và phẩm chất người học, giáo viên phải tạo một tình huống khác, yêu cầu khó hơn.

Việc đầu tiên, giáo viêncó thể chiếu 5 cuốn sách Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 được xếp theo hình nan quạt lên màn hình máy chiếu. Khi học sinh nhìn lên màn hình, giáo viêntrình chiếu 3 đến 5 đoạn mở đầu của những truyện cổ tích mà các em được học từ Tiếng Việt lớp 3 đến Tiếng Việt lớp 5. Từ đó, nêu câu hỏi: Các em nhìn lên màn hình máy chiếu, tự đọc các mở đầu của những truyện cổ mà thầy/cô vừa chiếu lên và cho biết: những đoạn mở đầu vừa đọc là những mở đầu của những truyện cổ nào? Các đoạn mở đầu trên có điểm gì giống nhau? Trên cơ sở quan sát, nhớ lại bài đã học, học sinh sẽ nhắc được tên của các truyện cổ và điểm giống nhau của các đoạn mở đầu là đều có cụm từ chỉ thời gian. Đặc điểm của cụm từ chỉ thời gian ở đây có tính phếm chỉ, thời gian không xác định. Từ những hiểu biết của học sinh, giáo viên tiếp tục đặt câu hỏi: Em nào có thể cho cả lớp biết, các truyện cổ trên thuộc thể loại nào trong kho tàng truyện cổ dân gian? Bằng những hiểu biết của mình, các em dễ dàng trả lời: thể loại của các truyện cổ trên là thể loại cổ tích.

Đến đây, giáo viên mời các em tiếp tục quan sát, giáo viên chiếu hình ảnh quyển sách Ngữ văn lớp 6 tập 1 lên màn hình, trình chiếu luôn các mở đầu của truyện truyền thuyết sắp được học và yêu cầu các em đọc các đoạn mở đầu vừa được xem rồi nêu câu hỏi: Sau khi đọc đoạn mở đầu của các truyền thuyết, các em có nhận xét gì về cách mở đầu? cách mở đầu này có gì khác với truyện cổ tích? Bằng quan sát và phân tích, học sinh chỉ ra được ở các đoạn mở đầu của truyền thuyết có chung một đặc điểm là có một cụm từ chỉ thời gian xác định. Từ đây giáo viên nêu thêm câu hỏi: Theo các em, vì sao truyện cổ tích lại mở đầu bằng cụm từ chỉ thời gian không xác định còn truyền thuyết lại mở đầu bằng cụm từ chỉ thời gian xác định?

Sau khi cho học sinh thảo luận, giáo viên chuyển ý: Chắc chắn các em chưa thể cắt nghĩa đầy đủ lí do tại sao.Và đây là một điều rất dễ hiểu vì ở chương trình Tiểu học không yêu cầu các em phải biết và cắt nghĩa nhưng lên lớp 6 ở cấp THCS, thầy/cô sẽ giúp các em trả lời được câu hỏi này một cách thỏa đáng sau khi chúng ta đi vào đọc hiểu chùm truyền thuyết Việt Nam ở những bài đầu tiên của chương trình môn học. Sau này, khi cầm một cuốn tuyển tập truyện dân gian, các em sẽ biết được truyện nào là truyện cổ tích, truyện nào là truyện truyền thuyết hay truyện cười, truyện ngụ ngôn. Đây chính là nhiệm vụ của thầy và trò chúng ta trong những tiết đọc hiểu văn bản văn học ở cấp học cao hơn. Có rất nhiều điều thú vị đang chờ đón các em trong các tiết đọc hiểu. Bây giờ chúng ta cùng nhau học bài mới!

Yêu cầu của bước khởi động trong dạy học phát triển năng lực người học buộc người thiết kế bài học phải dạy học sinhcách tư duy về bài học hơn là cung cấp kiến thức cần dạy. Khi chúng ta dạy cách tư duy về bài học thì mục tiêu dạy học của chúng ta mới thành công. Nói như Tony Buzan, tác giả của dạy học bằng sơ đồ tư duy: “Học cách học mới là kỹ năng quan trọng nhất”! Dạy học phát triển năng lực chính là dạy học sinh cách học.

Đối với giáo viên, để dạy kỹ năng và năng lực cho học sinh, chúng ta không thể soạn bài theo cấu trúc của giáo án cũ. Nói cách khác, muốn xây nhà lầu, chúng ta không thể dùng bản thiết kế của nhà cấp bốn rồi chỉnh sửa được. Nó cần một thiết kế, một cấu trúc mới. Hình thức lúc này đã mang tính nội dung, hàm chứa ý đồ, tư duy mới.

Bước 2. Hình thành kiến thức:

Đối với bài đọc hiểu văn bản văn học, bước hình thành kiến thức, giáo viên căn cứ vào mục tiêu bài học để thiết kế thành các hoạt động đọc theo đặc trưng thể loại.

Trong phần đọc hiểu văn bản, lâu nay, có một thói quen là người dạy thường gọi học sinh đọc thành tiếng cho cả lớp nghe, sau đó nhận xét về cách đọc, đọc mẫu một đoạn hoặc toàn bài (nếu bài ngắn) để định hướng tiếp cận bài học…; sau đó giải nghĩa từ khó; rồi tiếp theo là một chuỗi vấn đáp trên cơ sở hệ thống câu hỏi của giáo viên.

Trong quy trình dạy học phát triển năng lực, giáo viên thiết kế phần đọc hiểu thành các hoạt động. Mỗi hoạt động cần xác định rõ: Mục tiêu, nội dung hoạt động, dự kiến sản phẩm hoạt động của học sinh; xác định cách thức hoạt động.

Mục tiêu của hoạt động: tìm kiếm thông tin, kiến thức, hình thành các kỹ năng, năng lực... Phần nội dung hoạt động: mô tả rõ học sinh phải đọc, nghe, nhìn và làm gì... Phần dự kiến sản phẩm hoạt động của học sinh: chính là các mức độ hoàn thành.Cách thức tổ chức hoạt động thường cócác bước: Giao nhiệm vụ, học sinh thực hiện nhiệm vụ, báo cáo kết quả đọc hiểu và bước cuối là nhận xét, động viên của người dạy. Dạy học đọc hiểu văn bản văn học có thể triển khai bằng nhiều hoạt động. Người học có thể trình bày kết quả làm việc theo dự án của các nhóm, tổ chức thi khám phá những giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm, hoặc chí ít là thi kể, thi đọc diễn cảm,… Cuối mục này, giáo viên chỉ cần dành thời gian ngắn để giúp học sinhhệ thống lại kiến thức cơ bản đã phát hiện được.

Ở phần này, xin được minh họa bằng việc tổ chức hoạt động đọc hiểu  bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của tác giả Trần Quang Khải.

Đọc hiểu hai câu thơ đầu:

Đoạt sóc Chương Dương độ,

Cầm Hồ Hàm Tử quan.

Giáo viên chuyển giao nhiệm vụ học tập: Sau khi học sinh đọc thành tiếng, yêu cầu các emnêu cảm nhận về âm hưởng, giọng điệu.Cắt nghĩa điều gì đã tạo nên âm hưởng, giọng điệu đó? Cách tổ chức câu thơ có gì đặc biệt không? Nêu thời gian diễn tra của mỗi trận đánh và lý giải vì sao trận Hàm Tử diễn ra vào tháng 4/1285, trận Chương Dương diễn ra vào tháng 6/1285 nhưng trong bài thơ, tác giả nhắc tới trận Chương Dương trước, trận Hàm Tử sau?Tính chất, quy mô của từng trận đánh như thế nào?...

 Giáo viên theo dõi, hướng dẫn, giúp đỡ học sinh thực hiện nhiệm vụ.

Học sinh thực hiện nhiệm vụ được phân công. Trao đổi, thảo luận. Báo cáo kết quả học tập. Trình bày sản phẩm của hoạt động học:

Kết quả dự kiến: Âm hưởng chung ở 2 câu thơ đầu: âm hưởng chiến trận được tái hiện một cách hào hùng, nhịp điệu câu thơ nhanh với 2 sự kiện lịch sử lớn. Hai câu thơ được tổ chức theo kiểu đảo cấu trúc (câu thơ đảo trang). Các động từ cảm giác mạnh được đảo lên đứng đầu: “đoạt”, “cầm” gợi không khí chiến trận nhanh, mạnh, gấp, đà chiến thắng vang dội, tiếp nối nhau, quân ta đại thắng, quân địch đại bại. Hai câu thơ tái hiện chiến công rất đỗi tự hào qua hai trận thắng vừa mới diễn ra.

Điểm đặc biệt ở 2 câu đầu là cách thuật tả không theo tuyến tính thời gian: Trận Chương Dương diễn ra sau được tả trước và trận Hàm Tử diễn ra trước được tả sau.

Lí do: Trận Chương Dương là trận đánh lớn, có tính quyết định thắng lợi toàn diện, cục diện chiến trường nên gây ấn tượng mạnh và sâu sắc, âm vang thắng trận còn náo nức lòng người.Đây cũng là trận đánh do chính tác giả làm tổng chỉ huy nên ấn tượng, cảm xúc càng đậm. Vì thế, trận đánh được nhắc tới trước cũng thật dễ hiểu. Ở đây logic lịch sử nhường cho ấn tượng chủ quan, cảm hứng của thơ ca. Trong niềm vui chung có niềm tự hào riêng rất chính đáng của vị tổng chí huy trận đánh.

Đọc hiểu hai câu thơ cuối:

Thái bình tu trí lực,

Vạn cổ thử giang san.

 

Giáo viên ghuyển giao nhiệm vụ học tập: Hai câu cuối bàn về vấn đề gì?Cách bày tỏ cảm xúc của tác giả có gì đặc biệt? Hãygiải nghĩa các từ “thái bình”. Tại sao thái bình rồi mà nhân vật trữ tình còn xác định quyết tâm “tu trí lực”?Chỉ ra mối liên hệ giữa câu 2 và câu 3. Vị trí câu thứ 3 có gì đặc biệt? Em có phát hiện điều gì mới mẻ ở hình tượng người tráng sỹ thời Trần trong bài thơ?

 Giáo viên theo dõi, hướng dẫn, giúp đỡ học sinh thực hiện nhiệm vụ.

Học sinh: Thực hiện nhiệm vụ được phân công. Trao đổi, thảo luận. Báo cáo kết quả học tập. Trình bày sản phẩm của hoạt động học.

Kết quả dự kiến: Có sự chuyển ý từ câu 2 sang câu 3 (câu thừa sang câu chuyển). Khép lại một thời chiến trận - mở ra viễn cảnh của đất nước thái bình.

Trong âm vang của chiến thắng, vị đại tướng đã nghĩ về trách nhiệm của người đứng đầu với trăm họ (Ông là con vua Trần, là tướng giỏi cầm quân trên chiến trường). Trong niềm vui không quên tự nhắc: “tu trí lực” – phải gắng sức hơn nữa, nỗ lực, tu dưỡng bản thân hơn nữa để đất nước nghìn năm vững bền. Cảm hứng thế sự hòa trong cảm hứng thi ca. Chất thơ bay vút lên từ niềm hào sáng về chiến công. Tâm hồn nghệ sỹ hòa trong ý thức công dân. Trong niềm tự hào, niềm vui có niềm tin mạnh mẽ.

Chú ý ở đây tác giả dùng từ “thái bình” với nghĩa quốc thái dân an: nhân dân được an hưởng thái bình. Để đạt được tâm nguyện đó, người đứng đầu phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện bản thân và cống hiến cho đất nước.

Vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trữ tình được toát lên từ lời tự nhắc bản thân và mọi người: không được ngủ quên trên chiến thắng, không được tự mãn, kiêu căng khi có công trạng. Cái đích cuối cùng của sự nghiệp là để nhân dân an hưởng hạnh phúc trong cảnh thanh bình, thịnh trị chứ không phải để thị tài, khoe tài cá nhân. Hình tượng người anh hùng trong bài thơ là anh hùng cứu nước, người anh hùng của cộng đồng, mang dáng dấp anh hùng sử thi chứ không phải kiểu mẫu anh hùng cá nhân chủ nghĩa trong văn học lãng mạn sau này.

Trên cơ sở các hoạt động đọc hiểu toàn bài thơ, giáo viên định hướng các hoạt động: Tìm mối liên kết giữa 2 phần của bài thơ.

Bước 3. Hoạt động hệ thống hóa kiến thức, luyện tập, thực hành:

Với bài đọc hiểu văn bản, phần thực hành thường bị xem nhẹ, bài học thường kết thúc ở chỗ rút ra giá giá trị đặc sắc (về nội dung và nghệ thuật) của tác phẩm. Với nhiệm vụ của hoạt động thực hành, luyện tập thì giáo cần xem lại những kĩ năng mà người học cần được rèn luyện. Giúp học sinh biết cách làm thế nào để cảm và hiểu được hình tượng văn học. Người dạy tạo ra các bài tập hoặc nhiệm vụ để thông qua đó, học sinh được lặp lại các thao tác, kĩ năng như phân tích, giải thích, so sánh, suy luận, tổng hợp, tạo lập văn bản…

Tổ chức hoạt động đọc hiểu, giáo viên cần xen kẽ hoặc tích hợp kiến thức Tiếng Việt, Tập làm văn. Hoạt động này thường bao gồm:

- Phát hiện các hiện tượng ngôn ngữ tiếng Việt, tìm hiểu và nhận diện, phân tích các kiến thức tiếng Việt.

 - Phát hiện các đặc điểm và cách tạo lập văn bản. Tùy theo từng bài học để có thể xen lồng hay tích hợp dạy Tiếng Việt và Tập làm văn. Phần ứng dụng có thể có các yêu cầu dưới đây:

- Ứng dụng giải quyết các vấn đề trong học tập (Ví dụ: đọc hiểu văn bản cùng thể loại, cùng thời kì,..).

- Ứng dụng giải quyết các tình huống trong cuộc sống (gắn liền với bản thân học sinh; các vấn đề xã hội…).

Đối với bài đọc hiểu Tụng giá hoàn kinh sư, giáo viên có thể thiết kế các hoạt động của phần này như sau:

Tìm mối liên kết giữa 4 câu thơ/cách tổ chức bài thơ (Khai – Thừa – Chuyển – Hợp). Thử làm một thao tác giả định: thay từ “thái bình” bằng từ “hòa bình” thì sắc thái, ý nghĩa câu thơ có thay đổi không? Tương tự như vậy, cắt nghĩa chữ “đế” trong câu thơ nguyên tác của bài thơ Sông núi nước Nam và chữ “vua’ trong phần dịch nghĩa để thấy được dụng ý của tác giả; sự khác biệt giữa nguyên tác và bản dịch. Lí giải vì sao người xưa gọi việc dịch thơ là “sát” thơ, giết chết thơ! Từ đó bước đầu hiểu được thi pháp thơ trung đại Việt Nam.Qua hoạt động đọc hiểu, bước đầu nhận xét kết cấu một bài thơ tứ tuyệt Đường luật có gì đặc biệt? Bài thơ có hình thức vay mượn (ngôn ngữ, thể loại) nhưng nội dung lại mang tinh thần dân tộc. Em có nhận xét gì về điều này?

Bước 4. Vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Phần vận dụng có thể có các yêu cầu dưới đây:

- Vận dụng giải quyết các vấn đề trong học tập (Ví dụ: Chọn một tác phẩm cùng thời đại, cùng thể loại để học sinh tự đọc hiểu).

- Ứng dụng giải quyết các tình huống trong cuộc sống (gắn liền với bản thân học sinh; các vấn đề xã hội đương đại).

Đối với hoạt động đọc hiểu bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư, phần vận dụng kiến thức vào thực tiễn, giáo viên có thể tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện nhiệm vụ sau: Từ vẻ đẹp của hình tượng người con trai thời Trần, em có suy nghĩ gì về ý thức gánh vác trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay đối với đất nước? Hãy viết một đoạn văn 7-10 câu nói lên suy nghĩ của mình.

Bước 5. Tìm tòi, mở rộng

Bám sát mục tiêu môn học và bài học cụ thể, các bài học trong môn Ngữ văn coi việc hình thành các phẩm chất cơ bản: tình yêu thương, tự chủ và có trách nhiệm là then chốt; coi việc hình thành các năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực giao tiếp,… là chính yếu; đồng thời, cùng với các môn khác, nó góp phần hình thành các năng lực tự học, giải quyết vấn đề, sáng tạo,…Trên cơ sở nội dung bài học, các hoạt động dạy học, giáo viên tổ chức các hoạt động tìm tòi, mở rộng để phát triển các năng lực, hình thành những phẩm chất cốt lõi.

Trong dạy học phát triển tư duy, vận dụng thao tác lập luận so sánh luôn là một phương phápdạy học hiệu quả. Đối với môn Ngữ văn, so sánh là để tìm ra điểm tương đồng, điểm khác biệt. Và sau cùng là chỉ ra ý nghĩa, giá trị thẩm mỹ của những điểm tương đồng hoặc sự độc đáo, khác biệt đó chứ không nhằm mục đích so sánh phân loại, xếp loại hơn – thua, tốt – xấu. Nhiều khi so sánh để nhận ra tính phổ quát, tính hệ thống, điểm chung giữa các đối tượng hoặc thấy được cái riêng biệt, mới mẻ, giàu tính thẩm mỹ từ những điều tưởng như rất quen, gần gũi. Dạy bài thơ Ánh trăng(Ngữ văn 9, tập 1) của Nguyễn Duy, giáo viên có thể mở rộng vấn đề, so sánh với bài thơ Hồi hương ngẫu thư của tác giả Hạ Tri Chương (Ngữ văn 7, tập 1) để tìm ra những điểm tương đồng cũng như những điểm khác biệt giàu tính thẩm mỹ của hai bài thơ, hai tác giả xa cách nhau về thời đại về trải nghiệm nhưng lại gặp gỡ nhau nhiều điều hết sức thú vị:

-Hoàn cảnh dù thay đổi nhưng tình cảm không đổi thay (Hồi hương ngẫu thư).

-Con người đổi thay khi hoàn cảnh thay đổi (Ánh trăng).

-Đi hết chặng đường hiến vinh, tìm về giá trị muôn đời: tình cảm nguồn cội (Hồi hương ngẫu thư).

-Khi đạt đến cuộc sống sung túc, đang rất hài lòng, quên lãng quá khứ thì vấp một tình huống giúp nhận ra lẽ sống, tự vấn bản thân để tỉnh thức (Ánh trăng).

 Những nghịch lí thú vị:Sự vô ý -Hữu tình; Chủ quan - Khách quan; Còn - Mất; Thân thuộc - Xa lạ; Được - Mất; Khoảnh khắc - Muôn đời….

Cuộc đời luôn tồn tại những nghịch lí, mâu thuẫn. Nhiều khi, những tồn tại ấy làm thức tỉnh con người, giúp con người bừng ngộ, nhạy cảm và sâu sắc hơn; nhận ra đâu là cái mình cần, là giá trị cần kiến tạo, giữ gìn và hướng tới. Thời gian dù có làm cho mọi vật đổi thay thì tình yêu quê hương, đất nước, tình cảm sâu nặng với nơi chôn nhau cắt rốn vẫn còn mãi mãi.

Hạ Tri Chương và Nguyễn Duy là những con người từng trải, nhạy cảm, cuối cùng hướng đến những giá trị muôn đời: ân nghĩa thủy chung với quá khứ, nguồn cội, nhận rõ những giá trị đích thực của cuộc đời…

Khi dạy bài thơ Ánh trăng, một thi phẩm của người lính vừa rời xa trận mạc, sống trong cảnh hòa bình, chúng ta cũng có thể cho học sinh so sánh, cảm nhận tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ Việt Bắc, một bài thơ trữ tình được Tố Hữu viết  nhân sự kiện Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, tháng 10 năm 1954, cơ quan Đảng, Chính phủ rời Việt Bác về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Trong khoảnh khắc quyến luyến, bùi ngùi, người ở lại cất tiếng ướm hỏi, gợi nhắc:

Mình về thành thị xa xôi
Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng?
Phố đông, còn nhớ bản làng
Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?

Mình đi, ta hỏi thăm chừng
Bao giờ Việt Bắc tưng bừng thêm vui?

                                                           (Việt Bắc – Tố Hữu)

Thiết kế bài dạy theo định hướng năng lực là một nhiệm vụ/một hoạt động còn mới mẻ đối với giáo viên.

Có một mâu thuẫn trong tâm lý và nhận thức của đồng nghiệp hiện nay là ngại đổi mới trong khi tự thấy rằng giáo viên đang thiếu không gian để sáng tạo. Đề cao nhu cầu sáng tạo nhưng rập khuôn, máy móctrong thực hiện.

Bao giờ cũng thế, cái mới sẽ phủ định cái cũ trên cơ sở cái mới có những ưu việt hơn cái cũ. Thực hiện dạy học mới thì mô hình giáo án cũ không thể đáp ứng tốt nên chúng ta cần phải thiết kế mô hình giáo án mới là đương nhiên. Trước một cái mới, việc đầu tiên là chúng ta tuân thủ vật mẫu để rèn dần thói quen, hình thành kỹ năng. Nói như người xưa là: “Vô pháp tất tiên hữu pháp” với nghĩa là muốn vượt thoát khỏi phép tắc trước hết hãy tuân thủ phép tắc. Để rồi: “Hữu pháp chi cực quy vu vô pháp”, khi đi đến điểm cùng cực của phép tắc, chúng ta sẽ gặp một chân trời mới đầy sáng tạo đang vẫy gọi. Vì thế, thiết nghĩ giáo viên muốn đổi mới dạy học hiện nay rất cần sự cầu thị, hợp tác và một tinh thần tự học bền bỉ, say mê. Thiết kế giáo án năng lực là một yêu cầu của dạy học phát triển năng lực. Khi mà giáo viên đến lớp vẫn dùng giáo án cũ, có chăng thêm mấy tiểu mục về phẩm chất, năng lực mà chưa chuyển giáo án thành một thiết kế hoạt động học của học sinh thì đổi mới căn bản, toàn diện của giáo dục vẫn đang ở bên ngoài cửa lớp./.


Tập tin đính kèm
Tác giả: Phan Quốc Thanh - PTP, Phòng GD&ĐT
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết